Trong cuốn nhật ký của Anne Frank – cô bé đã đi qua những năm tháng tuổi thơ dưới bóng tối của chiến tranh và hận thù – có một dòng chữ đã khiến người đọc không khỏi day dứt:
“Thật kỳ diệu khi không ai cần đợi dù chỉ một khoảnh khắc trước khi bắt đầu cải thiện thế giới cho trẻ thơ”.
Lời nhắn gửi ấy vừa là niềm tin đơn sơ của một đứa trẻ giữa đống đổ nát, vừa là tiếng khóc âm thầm nhưng dai dẳng chờ mong được người lớn chú ý tới. Bởi trong khi chúng ta đang mải bàn bạc về sự hưng thịnh của một đất nước, vẫn còn đó những đứa trẻ đang phải chờ đợi để được lắng nghe, bảo vệ, và đối xử công bằng.
Trẻ em, những sinh linh lẽ ra phải là đối tượng được ưu tiên và che chở nhất, lại nhiều khi trở thành nhóm yếu thế nhất trong xã hội. Khi quyền lợi của các em bị xem nhẹ, khi tiếng nói của các em bị lấn át, và khi sự bất công diễn ra, câu hỏi đặt ra không còn là “ai sẽ bảo vệ trẻ em?”, mà là “liệu người lớn có đủ can đảm để đặt quyền lợi của các em lên hàng đầu hay không?”. Bảo vệ quyền lợi và sự công bằng cho trẻ em không chỉ là một nghĩa vụ pháp lý, mà hơn cả, là thước đo nhân tính của cả một cộng đồng. Bởi khi chúng ta lên tiếng để bảo vệ quyền lợi cho những đứa trẻ kém may mắn ấy, đó là cuộc chiến nhằm giữ cho lớp trẻ của nhân loại không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sự bạo tàn và thờ ơ của thế giới người lớn.
Công bằng và công lý dành cho trẻ em không chỉ dừng lại ở những sự phân chia vật chất đơn thuần. Đó còn là sự bình đẳng trong quyền được sống an toàn, được che chở trước những mối nguy hiểm luôn rình rập, và được tôn trọng như một con người với giá trị riêng. Một xã hội chỉ có thể được khẳng định là văn minh khi số phận của một đứa trẻ không bị định đoạt bởi nơi em sinh ra, hoàn cảnh gia đình hay những sai lầm mà người lớn gây ra. Bởi không một đứa trẻ nào đáng phải gánh chịu sai lầm từ sự lựa chọn của cha mẹ mình. Thế nhưng, thực tại lại phơi bày những nghịch lý đầy nhức nhối. Giữa kỷ nguyên công nghệ số ngày càng phát triển, vẫn còn tồn tại những tiếng khóc non nớt bị nhấn chìm trong sự thờ ơ, hay, bị tổn thương ngay trong chính mái nhà – nơi lẽ ra phải an toàn nhất.
Nhìn vào những tin tức gây sốc trên báo chí Việt Nam thời gian qua đã buộc chúng ta phải trực tiếp đối diện với hiện thực tàn khốc mà nhiều đứa trẻ đang đối mặt hằng ngày. Từ những vết sẹo chằng chịt trên cơ thể bé V.A tại TP.HCM, một đứa trẻ bị tước đoạt quyền được sống ngay trong căn hộ cao cấp. Sự bất công ở đây không chỉ nằm ở hành vi tàn ác của phụ huynh, mà còn nằm ở sự thờ ơ của những người hàng xóm, những người đã nghe thấy tiếng khóc đau nhói của bé V.A nhưng họ lại chọn cách im lặng. Thật nhức nhối làm sao khi ta chợt nhận ra một nghịch lý cay đắng: Trong kỷ nguyên mà con người đang nỗ lực tạo nên những con robot có cảm xúc đầy đủ như một con người bình thường, chính chúng ta lại đang dần “robot hóa” trái tim mình, dửng dưng nhìn.
Sự bất công đối với trẻ em thường nảy sinh từ quan niệm sai lầm: “Trẻ em là tài sản của cha mẹ”. Khi coi đứa trẻ là một vật sở hữu thay vì một chủ thể riêng biệt, người lớn tự cho mình quyền phán xét, nhào nặn, áp đặt và thậm chí là ngược đãi dưới tư tưởng “thương cho roi cho vọt”.
Bên cạnh đó, sự bất bình đẳng về kinh tế và địa lý cũng tạo nên những hố đen sâu hoắm. Một đứa trẻ ở vùng cao biên giới, hằng ngày phải đi bộ chục cây để tìm con chữ, rõ ràng đang không nhận được sự công bằng về cơ hội so với một đứa trẻ ở đô thị. Khi quyền lợi bị chia cắt bởi khoảng cách giàu nghèo, tương lai của các em như thể đã được định đoạt ngay từ vạch xuất phát. Liệu ta đã bao giờ mảy may tới những đôi chân trần của đám trẻ vùng cao đang co quắp vì cái lạnh, khao khát kiếm được chút tiền nhỏ nhằm mưu sinh; ở cái độ tuổi mà các em lẽ ra phải được nô đùa, được sống vô lo vô nghĩ như một đứa trẻ thực thụ?
Như đại thi hào Rabindranath Tagore từng khẳng định: “Mỗi đứa trẻ ra đời là một thông điệp rằng Thượng đế vẫn chưa thất vọng về con người”. Nếu chúng ta thờ ơ để sự bất công chà đạp lên những tâm hồn thơ ngây ấy, thì cũng đồng nghĩa với việc chính chúng ta đang tự đánh mất những giá trị đạo đức căn bản. Bảo vệ trẻ em không chỉ là giúp đỡ một con người, mà còn là gìn giữ nền tảng nhân văn của cả xã hội.
Đã đến lúc chúng ta ngưng nhìn nhận việc bảo vệ trẻ em như một hoạt động từ thiện, mà hãy xem đó là trách nhiệm đạo đức. Một quốc gia chỉ thực sự hùng mạnh khi trẻ em được lớn lên trong niềm vui thay vì nỗi sợ hãi, và mọi đứa trẻ, dù ở đâu, cũng đều cảm thấy thế giới này là một nơi an toàn để thuộc về.

Bình luận